Tại một trường trung học cơ sở vùng sâu vùng xa thuộc tỉnh Thái Nguyên, thầy Mông Văn Đại dành gần chục năm giảng dạy môn Lịch sử và Địa lý, đặc biệt là môn Lịch sử. Giống như bao giáo viên tận tâm ở nông thôn, từ lâu thầy đã quen với những dụng cụ dạy học truyền thống: phấn, bảng đen, giáo án viết tay, bài giảng được chuẩn bị cẩn thận.
“Nhiều năm qua, giờ học của tôi chủ yếu dựa vào sách giáo khoa, phấn, bảng đen và những câu chuyện tôi soạn sẵn cho học sinh”, thầy Đại chia sẻ. “Tôi luôn cố gắng làm cho Lịch sử trở nên gần gũi bằng cách kể cho các em nghe về những cuộc đấu tranh anh hùng, các triều đại, các cuộc khởi nghĩa và những nhân vật đã góp phần dựng xây đất nước.”
Thế nhưng, theo thời gian, thầy nhận thấy sự thay đổi trong thái độ học tập của học sinh. Không ít em vẫn tiếp cận môn Lịch sử một cách thụ động, ghi chép máy móc và học thuộc các sự kiện chỉ để làm bài kiểm tra. Với nhiều học sinh, Lịch sử vẫn là một môn học dài, khó nhớ và khô khan.
Bước ngoặt đến khi thầy cùng các đồng nghiệp tham gia dự án “Nâng cao năng lực số cho học sinh dân tộc thiểu số” do ChildFund triển khai nhằm hỗ trợ chuyển đổi số trong dạy và học. Thông qua dự án, các giáo viên được tập huấn và làm quen với nhiều nền tảng, công cụ học tập số như MozaBook, hệ thống quản lý học tập (LMS), OLM cùng nhiều tài nguyên số khác để thiết kế bài giảng và xây dựng các hoạt động tương tác trong lớp học.

Thầy giáo Đại sử dụng mozaBook trên màn hình tương tác để giảng dạy môn Lịch sử
“Lúc đầu tôi rất bối rối”, thầy Đại nhớ lại. “Có nhiều công cụ tôi chưa từng sử dụng trước đây và không phải lần nào cũng thành công. Nhưng tôi tự nhủ rằng nếu muốn học sinh thay đổi cách học thì trước hết mình phải thay đổi cách dạy.”
Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất của thầy là tiết học Lịch sử đầu tiên sử dụng mozaBook. Trên màn hình, các trận chiến lịch sử được tái hiện sinh động bằng hình ảnh, bản đồ động và dòng thời gian trực quan. Học sinh thích thú khám phá các mô hình 3D, tương tác trực tiếp với tài liệu số và tham gia trả lời câu hỏi thông qua các trò chơi như “Ai là triệu phú?”, Vòng quay may mắn hay Ô chữ bí mật. Các em cũng tích cực thảo luận nhóm và nhập vai vào các nhân vật lịch sử trong những hoạt động học tập trực tuyến.
Không khí lớp học dần thay đổi. Học sinh giơ tay phát biểu nhiều hơn, chủ động đặt câu hỏi và hào hứng tham gia vào các hoạt động trên lớp. Lịch sử không còn chỉ là những trang sách cần ghi nhớ mà trở thành một hành trình để khám phá, thảo luận, tưởng tượng và kết nối với quá khứ.

“Sự thay đổi này không chỉ diễn ra trong lớp học mà còn thay đổi chính suy nghĩ của tôi với tư cách là một giáo viên,” thầy Đại chia sẻ. “Tôi nhận ra rằng trong thời đại số, giáo viên cần không ngừng học hỏi, đổi mới và dám bước ra khỏi vùng an toàn của mình. Chuyển đổi số đã mang đến nguồn năng lượng mới cho công việc giảng dạy và giúp tôi tìm lại niềm đam mê với nghề.”
Đến cuối học kỳ, theo thầy Đại, kết quả học tập của học sinh có tiến bộ rõ rệt. Quan trọng hơn, học sinh trở nên yêu thích môn Lịch sử hơn, tích cực hơn trong giờ học và tự tin hơn trong học tập.
“Kết quả quý giá nhất đối với tôi không chỉ là điểm số được cải thiện,” thầy Đại nói. “Điều ý nghĩa nhất là được chứng kiến học sinh trở nên tự tin hơn, năng động hơn và thực sự hứng thú với môn Lịch sử.”
Một học sinh chia sẻ: “Trước đây em rất sợ học Lịch sử. Nhưng bây giờ, bài học nào cũng thú vị. Em cảm thấy như mình đang được sống trong lịch sử”.

Thông qua dự án “Nâng cao năng lực số cho học sinh dân tộc thiểu số”, câu chuyện của thầy Mông Văn Đại cho thấy công nghệ số có thể mang đến những thay đổi tích cực ngay cả ở những lớp học vùng sâu, vùng xa. Khi được trang bị kiến thức, kỹ năng và sự hỗ trợ phù hợp, giáo viên có thêm tự tin để đổi mới phương pháp giảng dạy, từ đó tạo nên môi trường học tập hấp dẫn, toàn diện và giàu tính tương tác hơn cho học sinh.
Đối với thầy Đại, chuyển đổi số không chỉ mở ra cánh cửa đến với những phương pháp giảng dạy hiện đại mà còn khơi dậy niềm đam mê, sự sáng tạo và hy vọng mới cho thế hệ học sinh tiếp theo tại tỉnh Thái Nguyên.